Việt Nam đang là nước đứng thứ sáu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may, tuy nhiên, nghịch lý là chúng ta vẫn đang nhập khẩu tới 86% nguyên phụ liệu may mặc, mà nguyên nhân chính nằm ở khâu nhuộm và hoàn thành vải. Đây là khâu được coi là yếu nhất, là nút thắt cổ chai trong chuỗi giá trị ngành dệt may của chúng ta. Sự yếu kém đó thể hiện ở hai khía cạnh: (1) có rất ít đơn vị trong nước có thể in nhuộm và hoàn thiện vải; và (2) các đơn vị có thể thực hiện khâu này lại chưa làm thực sự tốt.

Thứ nhất, thực tế hiện nay chỉ có một số ít các doanh nghiệp nội có đủ năng lực trong khâu nhuộm hoàn thiện vải. Nguyên nhân chính của điều này là khâu nhuộm và hoàn thành vải cần có sự tham gia của rất nhiều máy móc thiết bị như máy giũ hồ, máy nhuộm, máy căng sấy vải, máy cán định hình, máy in họa tiết,…

Ngoài ra, các nhà máy nhuộm còn cần đầu tư một hệ thống xử lý nước thải hiện đại bởi lượng nước thải của ngành in nhuộm vải là rất lớn, khoảng từ 10-40 lít/mét vải, chứa nhiều chất độc hại gây chết các sinh vật và vi sinh vật như xút, Na2CO3 dùng để nấu sợi, làm bóng sợi và xử lý nước thải sợi pha axit H2SO4 để trung hòa xút; NaClO, NaClO2 dùng để tẩy trắng vải; Na2S hoặc Na2S2O4 dùng làm hóa chất nhuộm; Formandehit dùng để cầm màu và xử lý chống nhăn; các tạp chất kim loại nặng lẫn trong xút công nghiệp hoặc trong một số thuộc nhuộm vải;… Các máy móc này đều rất đắt tiền, chỉ có các đơn vị có vốn lớn mới có thể trang bị được.

Với vấn đề tương tự như vậy, chúng ta có thể tham khảo cách làm của Ấn Độ. Bên cạnh việc giảm thuế nhập khẩu cho các thiết bị ngành dệt nhuộm (điều này Việt Nam cũng có làm), chính phủ Ấn Độ còn hoàn 5% lãi suất cho các doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực của ngành dệt.

Chính phủ cũng trợ cấp vốn 10% đối với các khoản đầu tư của doanh nghiệp vào máy móc quan trọng của ngành dệt nhuộm có trong danh sách được ưu đãi như hệ thống phối thuốc nhuộm và nhuộm tự động, máy làm bóng và tẩy trắng vải, máy nhuộm jet PLC, máy in quay tự động,…

Ngoài ra, Ấn Độ còn quy hoạch ngành dệt may thành các cụm công nghiệp dệt may như Brandix India Apparel City hay Kinfra Apparel Park. Cách làm này không chỉ giúp tăng cường sự liên kết giữa các mắt xích trong ngành dệt may mà còn giúp các doanh nghiệp có điều kiện xây dựng một hệ thống xử lý nước thải chung, giảm bớt gánh nặng chi phí mà vẫn có hệ thống đạt các tiêu chuẩn môi trường.

Chúng ta cũng có thể xem xét cách giảm bớt mức độ ô nhiễm từ ngành dệt nhuộm của các nước châu Âu như Anh, Đức, Ý, Hà Lan… bằng cách sử dụng các hóa chất xanh như chất trợ nhuộm nguồn gốc thiên nhiên như Rustol ARC và Rucolin RSO, các thuốc nhuộm hoạt tính không kim loại Lanasol CE hay áp dụng công nghệ nhuộm không sử dụng nước để làm giảm lượng nước thải cũng như nồng độ chất độc hại trong dòng thải.

Vấn đề thứ hai là các nhà máy nhuộm in vải hiện tại của chúng ta hoạt động chưa hiệu quả, chủ yếu là do hệ thống máy móc, trang thiết bị in nhuộm vải của chúng ta đa phần đã rất cũ, công nghệ nhuộm in còn thấp và trình độ tay nghề của công nhân chưa cao.

Hiệp hội Dệt may đã thống kê, chỉ có 35% thiết bị in nhuộm của chúng ta là thiết bị mới, 30% có thể cải tạo và nâng cấp được, còn 35% là máy móc cũ được sử dụng từ 20 năm trước, cần sớm được thay thế.

Công nghệ nhuộm đang được áp dụng là công nghệ nhuộm ngâm, hay còn gọi là nhuộm tận trích. Vật liệu được ngâm trong dung dịch nhuộm bao gồm thuốc nhuộm, dung môi và các chất trợ nhuộm cho đến khi vật liệu ngấm màu đều thì được đưa ra sấy và xử lý các khâu hoàn thành vải.

Đặc điểm của công nghê này là thời gian nhuộm 1 mẻ dài, nhất là khi máy móc đã cũ, hiệu suất thấp. Trung bình mỗi mẻ nhuộm tốn từ 4-18 tiếng tùy từng loại vải, thời gian kéo dài dẫn đến mức tiêu thụ điện, nước cao. Ngoài ra, chúng ta vẫn phải nhập khẩu gần như 100% thuốc nhuộm và chất trợ nhuộm. Do đó, chi phí sản xuất của ngành dệt nhuộm trong nước rất cao, và giá sản phẩm cũng bị đẩy lên theo.

Khâu phân tích màu và chuẩn bị dung dịch nhuộm của các nhà máy còn rất thủ công. Để nhuộm ra một màu nhất định, họ phải làm các mẫu thử với các dung dịch nhuộm nồng độ khác nhau cho đến khi ra được màu mong muốn thì họ sẽ dùng dung dịch nhuộm tương ứng để nhuộm đại trà. Cách làm này rất mất thời gian mà màu chưa chắc đã chính xác hoàn toàn so với màu gốc vì kỹ thuật viên chỉ đánh giá màu dựa vào cảm quan. Đồng thời sai lệch màu dễ xảy ra vì quá trình cân đo đong đếm các chất trong dung dịch nhuộm là thủ công, không chính xác tuyệt đối.

Trong khi đó, đa phần công nhân trong ngành đều là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, thiếu trầm trọng kiến thức và kỹ năng ngành hóa nhuộm. Vì vậy, hiệu quả của các công đoạn thủ công lại càng thấp. Đây là một lý do khiến chất lượng vải nội không được các doanh nghiệp may trong nước đánh giá cao.

So sánh với vải Trung Quốc, vải sản xuất trong nước vừa đắt hơn lại vừa kém hơn về tính thẩm mỹ. Dạo một vòng quanh chợ Ninh Hiệp, chợ đầu mối cung cấp vải lớn nhất khu vực phía Bắc, có thể dễ dàng nhận thấy đối với cùng một loại vải thì giá vải sản xuất trong nước đắt gần gấp đôi so với giá vải Trung Quốc.

Đó là vì ngành công nghiệp sản xuất máy móc và hóa chất dệt nhuộm của Trung Quốc rất phát triển, họ không cần nhập khẩu các mặt hàng này và tốc độ thay đổi công nghệ dệt nhuộm cũng rất nhanh. Cùng sử dụng công nghệ nhuộm tận trích nhưng Trung Quốc sử dụng thêm nhiều chất trợ nhuộm xúc tác thúc đẩy quá trình nhuộm cùng với máy móc thiết bị mới hơn, tự động hóa các chế độ dành riêng cho từng loại vải khác nhau, cho hiệu suất nhuộm cao hơn chúng ta gấp 3 lần.

Riêng với khâu phân tích màu và chuẩn bị dung dịch nhuộm, hiện tại nhiều nhà máy của Trung Quốc đã trang bị hệ thống nhuộm kỹ thuật số, sử dụng máy đo màu quang phổ và hệ thống pha màu kỹ thuật số. Nhờ thế, màu nhuộm hoàn toàn trùng khớp với màu mong muốn, đồng thời số màu nhuộm cũng rất đa dạng.