Ngân hàng trước “cánh cửa” TPP

Ngân hàng trước “cánh cửa” TPP

304
0

Việc Việt Nam ký kết hàng loạt Hiệp định thương mại tự do (FTA), gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cuối năm nay, hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10 vừa qua thì sự mở cửa hơn nữa đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng (NH) là điều tất yếu sẽ xảy ra. Điều này sẽ mang lại cơ hội cho hệ thống NH vững mạnh, hiệu quả và lành mạnh hơn, hỗ trợ tối ưu cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức và cạnh tranh cao.

6965cad5-b6e3-45ed-98e5-7d5e88a318b2Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Ảnh: Trần Hải

Cơ hội tiếp cận thị trường ngoài nước

Trong thời gian qua, để chuẩn bị hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính – NH nói riêng và hội nhập kinh tế nói chung thông qua các FTA, cũng như việc sẵn sàng cho thực hiện các kết quả đàm phán khi TPP có hiệu lực, ngành NH đã luôn chủ động, tích cực tham gia từ khâu đàm phán, ký kết các văn bản, chính sách cũng như triển khai các hành động thực tế trong toàn ngành để tạo ra thế và lực mới của hệ thống NH Việt Nam trong một sân chơi mới rộng hơn và cũng nhiều đòi hỏi cao, sát sao hơn.

Theo Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), kiêm Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước KX 01 PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn, hội nhập sẽ mở ra cơ hội tiếp cận thị trường nước ngoài cho các NHTM Việt Nam. Cùng với đó là các cơ hội khác như được chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý NH hiện đại; nâng cao tính minh bạch, công khai, quản trị NH theo chuẩn mực quốc tế; cơ hội hình thành các mô hình kinh doanh NH mới.

“Vì vậy, khi TPP được ký kết, người tiêu dùng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn bởi tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ tài chính và NH” – PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn chia sẻ.

Cũng theo nhiều chuyên gia kinh tế, các luồng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới tạo thuận lợi cho các NHTM Việt Nam tăng cường thanh khoản và gia tăng cơ hội kinh doanh. Ngoài ra, NHTM Việt Nam có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn ủy thác trên thế giới với chi phí thấp hơn do vị thế của Việt Nam sẽ cải thiện nhiều sau khi chính thức tham gia TPP.

“Ngành NH “có dịp” lặp lại giai đoạn phát triển thần kỳ như năm 2006 khi Việt Nam gia nhập WTO, nhưng cường độ có thể thấp hơn” – TS Đào Lê Kiều Oanh (Trường đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh) nhận định. Ngoài ra, thương mại của Việt Nam được dự báo sẽ có mức tăng trưởng mạnh mẽ và các NHTM Việt Nam có điều kiện đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Đồng thời, lĩnh vực tài chính – NH sẽ được mở rộng hơn nữa theo các cam kết chung. Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu cũng cho biết, các NHTM Việt Nam có nhiều khả năng được mở “room” cho các đối tác chiến lược nước ngoài. Việc tham gia sâu rộng của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tạo điều kiện mở rộng hợp tác, nâng cao năng lực quản trị và tài chính cho các ngân hàng trong nước.

Đối diện thách thức

Theo PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn, TPP sẽ là bước ngoặt đòi hỏi Việt Nam và các nước tham gia phải cho phép các tập đoàn tài chính nước ngoài bán dịch vụ của mình sang thị trường các quốc gia thành viên khác mà không cần phải thành lập chi nhánh tại đó nếu các công ty trong nước tại thị trường này được phép cung cấp dịch vụ đó.

Điều này đồng nghĩa với việc không cần có thủ tục cho phép các NH nước ngoài thành lập NH con (có vốn 100% nước ngoài) như theo thỏa thuận trong WTO. Khi TPP được ký, Việt Nam sẽ chứng kiến nhiều sản phẩm đa dạng hơn của các NH nước ngoài trên thị trường trong nước mà không cần nhìn thấy cơ sở hoạt động của họ tại Việt Nam.

Bên cạnh việc nới lỏng sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào sân chơi trong nước, các NHTM Việt Nam cũng đối mặt với nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật để có thể thật sự tận dụng được những cam kết ưu đãi trong quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng hoạt động ra thị trường khu vực và quốc tế. TS Đào Lê Kiều Oanh cũng cho rằng, các điều kiện tiếp cận thị trường sẽ dần được xóa bỏ có thể được coi như một thách thức của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.

Ngoài ra, thách thức còn đến từ chính những hạn chế của hệ thống NH, như việc tiếp cận dịch vụ NH tuy đã tiến bộ nhưng vẫn còn ở mức thấp; những bất cập về quản trị rủi ro tại các ngân hàng trong nước và nợ xấu hệ thống NH đang có xu hướng gia tăng. Song song với đó là câu chuyện một số NH có năng lực quản trị yếu kém, vi phạm các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro.

Chất lượng tài sản của hệ thống NH diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, nhiều NH có tỷ lệ vốn tự có thấp, thậm chí có NH còn thấp hơn tỷ lệ quy định của NHNN là 9%. Theo ước tính, hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống chỉ đứng ở mức 8,5%, con số khá thấp so với các nước trong khu vực như Trung Quốc (11%), Thái-lan (15,7%), Phi-li-pin (15,2%).

Như vậy, kể từ năm 2016, khi các FTA thế hệ mới bắt đầu có hiệu lực và kể từ năm 2017, khi các điều khoản TPP dự kiến được áp dụng sẽ dẫn đến những thay đổi lớn về cấu trúc thương mại, tài chính của Việt Nam với các nước đối tác.

Vì vậy, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong xu thế hội nhập cần phải tính đến tác động của kinh tế thế giới tới kinh tế trong nước, mức độ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ các nước lớn tới chính sách tiền tệ của nước nhỏ như Việt Nam, để từ đó lựa chọn quan điểm điều hành chính sách tiền tệ phù hợp. Thành tựu của NHNN trong thời gian qua cho thấy, chính sách tiền tệ vẫn có thể đạt được trạng thái độc lập ngay cả với quốc gia nhỏ và có độ mở lớn như Việt Nam.

Tuy nhiên, sự kiểm soát tỷ giá và dòng vốn ở mức độ nhất định vẫn cần thiết để hạn chế những tác động từ kinh tế quốc tế đến thị trường trong nước trước khi thực hiện tự do hóa hoàn toàn. Bên cạnh đó, yếu tố quan trọng để bảo đảm sự độc lập này là khả năng chống đỡ của dự trữ ngoại hối đối với các biến động trên thị trường. “NHNN cần tiếp tục thực thi các chính sách hạn chế đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và giảm dần mức độ đô-la hóa nền kinh tế” – nhiều chuyên gia kinh tế đồng quan điểm khi nêu đề xuất.

Đối với hoạt động của các NHTM, vấn đề hội nhập cũng đặt ra đòi hỏi các NH cần phải nỗ lực hơn nữa để chuẩn bị các điều kiện cần và đủ về tài chính, năng lực quản trị kinh doanh, chiến lược hội nhập và cạnh tranh trong môi trường mới. Với năng lực tài chính và quản trị hiện tại, các NHTM Việt Nam mới chỉ tập trung phục vụ các doanh nghiệp trong nước hoạt động tại một số thị trường như Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma.

Do vậy, để thật sự đạt được mục tiêu hình thành các NHTM đạt tiêu chuẩn khu vực và thế giới, cùng với việc nâng cao năng lực quản trị và hoạt động nói trên, các NHTM cần phải đầu tư nghiên cứu và phát triển dịch vụ, tài chính hướng tới xuất khẩu để có thể đẩy mạnh hoạt động của mình tại thị trường nước ngoài.

Bối cảnh mới này sẽ đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải sẵn sàng, chủ động tham gia quá trình hội nhập, vì khi đó thị trường trong nước không còn mức bảo hộ cao như trước, các NHTM sẽ phải cạnh tranh khốc liệt hơn không chỉ trên sân nhà mà còn trên phạm vi toàn cầu.

PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn
Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế
(Đại học Quốc gia Hà Nội)

Việc nới “room” cho các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần tại các NHTM trong nước tuy giúp các ngân hàng trong nước có thể tiếp nhận luồng vốn từ nhà đầu tư nước ngoài nhiều hơn, nhưng sức ép bị thâu tóm hay chi phối cũng tăng cao.

TS Đào Lê Kiều Oanh
(Trường đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh)

Theo ND