Chiến lược số cho nhà mạng viễn thông – các định...

Chiến lược số cho nhà mạng viễn thông – các định hướng chiến lược

215
0

Ngành viễn thông trên toàn cầu và tại Việt Nam trong khoảng 3-5 năm trở lại đây chứng kiến xu hướng số hóa mạnh mẽ và cạnh tranh khắc nghiệt của nhiều doanh nghiệp trong đó có cả các ông lớn Internet như Google, Facebook, Apple,… Xu hướng Chuyển đổi số từ nhà mạng viễn thông sang Nhà cung cấp dịch vụ số được biết đến với nhiều cái tên như cách mạng công nghiệp 4.0, Telco 2.0, nhà mạng số, v.v. Vậy xu hướng này là như thế nào? Tại sao lại cần phải Chuyển đổi số?

Chuyển đổi số là gì và sự cần thiết của xu hướng này

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số (Digital transformation). Song hiểu một cách đơn giản, Chuyển đổi số (Digital Transformation) doanh nghiệp là quá trình chuyển đổi từ một doanh nghiệp truyền thống thành doanh nghiệp số. Bằng cách thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, văn hóa công ty, quy trình làm việc… Đặc biệt, chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi mô hình kinh doanh, áp dụng công nghệ (như Internet of Things, Big Data, Cloud Computing…) để đổi mới cách thức làm việc với khách hàng, đối tác.

Quá trình này cũng sẽ thay đổi quy trình, thói quen làm việc… của người lao động, từ việc phải lệ thuộc hồ sơ, giấy tờ truyền thống (hoá đơn giấy, in ấn báo cáo…) chuyển sang sử dụng hoá đơn điện tử, lãnh đạo công ty đọc báo cáo qua ứng dụng…

Trong một doanh nghiệp người ta thường nhắc tới 3 khía cạnh chuyển đổi hay cải tiến do công nghệ:

  1. Chuyển đổi mô hình kinh doanh (Business model transformation)
  2. Chuyển đổi về quy trình kinh doanh, vận hành (Process transformation)
  3. Chuyển đổi về sáng phẩm, sáng tạo sản phẩm (Product innovation)

Vậy vì sao phải chuyển đổi số?  Trong kỷ nguyên số ngày nay đặc biệt là khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra dẫn đến cạnh tranh ngày càng gay gắt, khách hàng cũng khó tính hơn. Thực tế này đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, cải tiến để thích ứng với sự thay đổi của khách hàng và nền kinh tế. Do đó, chuyển đổi số là con đường bắt buộc với mọi doanh nghiệp. Trên thế giới đã có rất nhiều doanh nghiệp chuyển đổi số thành công để phát triển hoặc tái sinh. Ở những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, chuyển đổi số cần thực hiện nhanh chóng và bắt đầu ở những giải pháp dễ áp dụng, đem lại hiệu quả rõ ràng, và ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu bán hàng.

Các nhà mạng viễn thông có thể làm gì?

Chuyển đối số là một xu hướng mới trong các doanh nghiệp nói chung và trong các nhà mạng viễn thông nói riêng. Tuy có nhiều lợi thế trong việc chuyển đổi, dịch chuyển từ công nghệ viễn thông truyền thống sang một doanh nghiệp số hóa tiên phong, nhưng không phải doanh nghiệp viễn thông nào cũng thành công tìm ra hướng đi phù hợp với một định hướng chiến lược đúng đắn. Đối với chiến lược Chuyển đổi số của doanh nghiệp Viễn thông, có thể chia làm 3 định hướng rõ rệt, bao gồm:

Smart Utility (Nhà mạng thông minh), theo hướng là đơn vị cung cấp nền tảng, cơ sở hạ tầng – cụ thể là mạng lưới theo hướng số hóa tối ưu. Đây là mô hình kinh doanh phù hợp với những doanh nghiệp có tiềm lực cơ sở hạ tầng lớn mạnh, có nhiều thuận lợi trong việc phát triển CSHT trong tương lai. Đối với chiến lược này, Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng. CNTT cần tạo ra được mạng lưới hạ tầng kết nối theo yêu cầu, các mạng lõi và mạng truyền tải, cũng như các hệ thống CNTT kết nối các yêu cầu này. Việc này gồm nhiều thay đổi thông qua SDN/ NFV (software-defined network (SDN), network function virtualization (NFV), API, trí tuệ nhân tạo (AI) và máy học (machine learning (ML), cũng như các nguồn mở để thúc đẩy đồng sáng tạo cộng đồng (community co-creation).

Vận hành hạ tầng thông minh cần sự linh hoạt hơn trong kiến trúc vận hành, và khả năng phản xạ tự động ngay lập tức với các vấn đề và thay đổi trong mạng lưới. Việc này giúp ích rất lớn cho các doanh nghiệp viễn thông cũng như các doanh nghiệp đòi hỏi hạ tầng mạng lưới khác như Điện lực, Truyền hình,…Đồng thời có sự tác động, hỗ trợ rất lớn tới công tác đảm bảo an toàn, ứng cứu mạng lưới khi có sự cố xảy ra, đặc biệt ở các khu vực địa lý vùng sâu, vùng xa, khó tiếp cận, hay trong điều kiện thời tiết phức tạp.

Tuy nhiên, đối với việc cung cấp nền tảng, cơ sở hạ tầng theo công nghệ số này, có 3 thách thức mà các doanh nghiệp phải đối mặt, bao gồm: Khả năng nhân rộng (Scalability), Chi phí (Containing costs) và Mức độ linh hoạt của mạng lưới (Network flexibility). Xét một cách công bằng, trong số các nhà mạng viễn thông ở Việt Nam hiện nay, MobiFone chưa có thế mạnh trong việc phát triển theo định hướng chiến lược này.   

Digital service provider (DSP) (Nhà cung cấp dịch vụ số): tức là ngoài dịch vụ viễn thông truyền thống, doanh nghiệp hướng tới cung cấp đa dạng hơn các dịch vụ số trên nền tảng đó, VD: IoT, an ninh bảo mật, điện toán đám mây (cloud), v.v. Đây cũng là định hướng mà MobiFone đã và đang bắt đầu triển khai trong giai đoạn vừa qua. 

Trong báo cáo Market Trends: Adjacent Markets Drive CSP Revenue Growth, Gartner có đề cập tới các thị trường liền kề bao gồm: Truyền thông số – Digital media, Dịch vụ CNTT – IT service, Internet vạn vật – IoT, Điện toán đám mây – Cloud, An ninh bảo mật – Security hay Dữ liệu lớn – Big data.

Cũng theo thống kê của Gartner, trong năm 2017, doanh số từ các thị trường liền kề (doanh thu số mới) của các nhà mạng viễn thông chiếm tới 17% tổng doanh thu của các nhà mạng lớn nhất trên toàn cầu. Đây là một tin vui, một minh chứng cho việc chuyển đổi số đem lại hiệu quả tích cực. Để tiếp tục đẩy doanh thu trong tương lai, các nhà mạng viễn thông nên chú trọng vào 2 mục tiêu: Giải quyết các nhu cầu thay đổi của khách hàng khối doanh nghiệp (là nguồn khách hàng mang lại doanh thu lớn); và tiếp tục hành trình chuyển đổi số mạnh mẽ để đưa ra các sản phẩm dịch vụ số mới tới từng phân khúc khách hàng theo xu hướng micro-service (mỗi dịch vụ, sản phẩm theo định hướng này sẽ mang lại doanh thu ít hơn nhưng dễ xây dựng, phát triển nhanh và quản lý, vận hành tốt).

Digital Ecosystem Enabler (Tạo dựng nền tảng hệ sinh thái): Khái niệm này được hiểu theo nghĩa doanh nghiệp tạo dựng mô hình kinh doanh nền tảng (platform) trong đó doanh nghiệp là nhân tố chủ chốt tạo dựng nền tảng và hệ sinh thái. Việc này thường khó và phức tạp, bởi nó đòi hỏi thay đổi hoàn toàn về tư duy và mô hình kinh doanh. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ kinh doanh một lĩnh vực cụ thể như viễn thông di động hay Công nghệ thông tin, mà là một hệ sinh thái, đem lại trải nghiệm số xuyên suốt cho khách hàng. Đây là nội dung từng được MobiFone nhắc đến nhiều trong sự kiện ra mắt 4G và trục truyền dẫn Bắc Nam năm 2016, tuy nhiên chưa thực sự được hiện thực hóa trong các định hướng phát triển sau này.  

Tại Việt Nam, ngành viễn thông đang chứng kiến một sự phát triển theo chiều ngang thậm chí đi xuống ở các sản phẩm truyền thống. Doanh thu từ sms, thoại tăng trưởng không đáng kể, liên tục sụt giảm trong các năm gần đây, và còn tiếp tục giảm trong thời gian tới. Nguyên nhân của điều này là do thị trường đã bão hòa. Trung bình mỗi người Việt đang sở hữu hơn một thuê bao di động, các dịch vụ OTT, IoT, SMAC… đang xâm nhập nhanh, rộng tới khách hàng buộc các nhà mạng phải thay đổi.

Hiện tượng một khách hàng sử dụng 5 – 7 dịch vụ của cùng nhà mạng như: viễn thông 3G – 4G, Smarthome, Internet quang, truyền hình trả tiền… đang ngày một phổ biến hơn. Do vậy, nhà mạng cần hình thành nên một hệ sinh thái số, một tổ hợp đa dịch vụ CNTT- viễn thông là xu hướng không thể khác.

Kết

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho cộng đồng doanh nghiệp trong đó có các nhà mạng nói chung và MobiFone nói riêng. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực giải pháp hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) về hoạt động chuyển đổi số của doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần chuyển đổi số và tận dụng khai thác dữ liệu số để hoạt động hiệu quả hơn. Quyền Bộ Trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng thì cho rằng, chuyển đổi số thành công giúp MobiFone trở thành doanh nghiệp sáng tạo nhất Việt Nam.

0 BÌNH LUẬN